Chuyện đời người nhặt rác đã từng là “đại ca” khét tiếng xứ Thanh


Nổi tiếng khắp các huyện lỵ xứ Thanh vào những năm đầu thập niên 70, cái tên đại ca “Ba chòm” Nguyễn Văn Thành không những khiến giới giang hồ khiếp sợ, mà còn khiến công an đau đầu.

Loading...

Quá khứ đau thương

Đại ca “Ba chòm” tên thường gọi là Nguyễn Văn Thành, tên khai sinh là Quách Văn Mậu. Ông Thành, SN 1936, tại xã Ngọc Thủy, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Để tạo dấu ấn khác biệt trong giới giang hồ, ông Thành cạo trọc đầu, nhưng lại để ba chỏm tóc kiểu “ba trái đào” trên đầu. Và mỗi khi đi đâu, ông Thành luôn giắt theo khẩu súng K54 bên mình. Cái tên đại ca “Ba chòm” cũng hình thành từ đó.

dai-ca-ba-chom

Đại ca “Ba chòm” bây giờ.

Sinh ra và lớn lên trong một vùng quê nghèo khó thuộc huyện miền biển nghèo khó của tỉnh Thanh Hóa, bố mẹ ông Thành không có nghề nghiệp gì ổn định, chỉ quanh quẩn với ruộng đồng và chài lưới bắt tôm, bắt cá. Quanh năm, suốt tháng bố mẹ ông làm quần quật ngoài đồng ruộng mà kiếm không đủ ăn. Do nhà nghèo nên mấy anh chị em nhà ông

Thành không được ăn no, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng bù lại, chàng thanh niên Nguyễn Văn Thành lại có một sức khỏe và vóc dáng hơn người và có tố chất thông minh bẩm sinh ít ai sánh kịp.

Năm ông Thành lên 10 tuổi, bố mẹ mất, việc học hành của mấy anh chị em ông Thành phải đứt đoạn. Tuy lúc đó ông Thành mới học chưa hết lớp 4, nhưng ông đã phải phụ giúp các anh chị trong gia đình làm đủ mọi việc kiếm sống.

Kiếm sống ở quê không đủ ăn, lớn hơn một chút, ông Thành theo đám bạn bè lang thang khắp các huyện lỵ xứ Thanh, rồi theo những đoàn tàu ra Hà Nội. Suốt những ngày tháng lang thang, ban ngày ông cùng đám trẻ bụi đời đến những quán cơm bình dân hay những khu chợ xin thức ăn thừa để sống qua bữa.

Buổi tối lại tìm gầm cầu, đầu đường, xó chợ để ngủ. Những ngày lang thang đó, với bộ dạng nhếch nhác, bẩn thỉu của một kẻ quê mùa, cậu bé Thành luôn bị khinh bỉ, bị bắt nạt. Sống giữa đô thị bơ vơ lạc lõng, thiếu vắng tình thương, cậu bé Thành dần trở nên lầm lì ít nói, bản năng sinh tồn khiến ông phải nghĩ ra những cách để chống chọi với cuộc sống lang bạt muôn vàn khó khăn.

Cuộc sống lang thang khắp các hang cùng ngõ hẻm, khi ấy, là vô cùng cực khổ với một đứa trẻ chưa đến tuổi vị thành niên. Cuộc sống chui rúc, ăn bờ, ngủ bụi, muốn yên cũng chẳng được yên. Chỉ vì đói khát, những đứa trẻ giang hồ sẵn sàng đánh nhau đến chảy máu đầu để giành giật miếng bánh, chỗ trú ít bị mưa nắng hơn.

Lang thang “ăn cơm xã hội” được 3 năm, ông Thành lại thấy nhớ quê hương da diết, nên dứt bỏ thành thị trở lại quê nhà thị xã Thanh Hóa kiếm sống. Nhưng quê hương ông khi ấy cũng rơi vào cảnh đói nghèo, kiệt quệ. Hai miền Nam, Bắc đang rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc, Đế quốc Mỹ đang tập trung đánh phá miền Bắc, mở rộng âm mưu xâm chiếm lãnh thổ.

Đang lúc rơi vào cảnh bế tắc “đi không được, ở không xong” ông Thành được một người “bạn xã hội”, lúc đó đang làm lính cho Ngụy quân ngụy quyền ở Tây Nguyên, rủ rê ông gia nhập lính Cộng hòa để có cuộc sống thay đổi, sung túc.

Bị viễn cảnh không phải chịu đói khát, được ăn sung mặc sướng làm lóa mắt, ông Thành vào Đà Lạt, gia nhập quân ngũ Cộng hòa chịu sự kiểm soát của chế độ Cộng hòa.

Thời điểm đó, chính quyền Ngụy đang chiều chuộng, mua chuộc những người miền Bắc Việt Nam, lấy lòng những người miền Bắc để thực hiện chiến dịch “lấy Bắc kỳ chống Bắc kỳ” chuẩn bị lực lượng đánh phá ra miền Bắc.

Sau khi gia nhập lính Cộng hòa được một thời gian, bọn Ngụy nhận thấy ông Nguyễn Văn Thành có tố chất của một thanh niên thông minh, nhanh nhẹn, nên đã cho ông vào trường Sỹ quan quân đội Ngụy, nơi chuyên đào tạo những người thuộc hàng ngũ cấp tướng tá chỉ huy trong lực lượng miền Nam Cộng hòa.

Ông Thành được học võ thuật, bắn súng, bơi lội, sử dụng những công cụ thông tin liên lạc, nắm bắt tình hình chiến tranh giữa lính Cộng hòa với quân dân cách mạng. Sau khi được đào tạo suốt 18 tháng, ông Thành và một số học viên khác được bọn Ngụy đưa ra Bắc tập kết, với kỳ vọng ông Thành và những “con gà” đã được tôi luyện dưới tay chúng trở thành những thámbáo chống phá trong lòng cách mạng. Thời điểm đó, theo như lời ông Thành là khoảng những năm 1962, 1963.

Tuy nhiên, ngay khi vừa chạm chân xuống miền Bắc, ông Thành và các học viên cùng khóa bị dân quân vây bắt. Ông Thành hô hào đồng bọn bỏ súng quy hàng. Ông và một số lính Cộng hòa khác bị đưa đi cải tạo chính trị ở trại giam số 6 Nghệ An, sau đó chuyển sang Trại giam số 5 Thanh Hóa. Ba năm sau, ông được thả tự do.

Chuyen tinh cua ong lao nua doi “cuop com ha ba”

Ông Nguyễn Văn Thành và vợ trong những phút giấy thảnh thơi.

Sa chân … “giang hồ”

Trải qua bao sóng gió cuộc đời, ông trở về quê hương, tìm một nơi để bấu víu, cứu vớt tâm hồn. Tuy nhiên, chính tại quê hương, sống bên những người thân thích, ông lại bị coi thường, ghẻ lạnh. Thất chí, bước chân ông vô tình bước vào giới giang hồ.

Theo tin tức từ lời kể của ông Thành, trong một lần lang thang tại bến xe phía Tây thị xã Thanh Hóa, ông tình cờ gặp một người đàn ông tên Cường, “sau khi nói chuyện, biết tôi một thời là lính Cộng hòa, có nhiều võ nghệ, chất giang hồ, hiện đang vô gia cư, cần tìm một việc làm để kiếm sống, Cường rủ tôi lên bãi vàng thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa đi làm vàng”. Kể từ đây cuộc sống của ông Thành thay đổi hoàn toàn.

Ngày đó, Cẩm Thủy nổi tiếng là một huyện nghèo với những khu rừng hoang sơ của hệ sinh thái núi đá vôi nối với các huyện Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc của tỉnh Thanh Hóa, tạo thành một vùng hoang sơ hiểm trở và những hang động kỳ bí, nhưng đặc biệt hơn cả là những bãi vàng sa khoáng có trữ lượng lớn, lúc nào cũng có hàng nghìn người từ khắp các nơi đổ xô đi đào đãi vàng.

Theo một số phu vàng trước kia kể lại thì những bãi vàng ở Cẩm Thủy ngày càng được mở rộng, các hang vàng ngày càng được người dân đua nhau đào bới sâu tới hàng trăm mét.

Nhưng càng đào sâu thì hang càng hẹp, độ thẳng đứng của hang càng cao, vì vậy mỗi hang chỉ đủ lọt một người chui xuống, người chui xuống có nhiệm vụ bốc, vét đất dưới lòng hang, cho vào xô hoặc buộc vào bao, người trên miệng hang sẽ kéo lên.

Trong quá trình làm nghề đào vàng, tình cơ ông Thành phát hiện ra hang vàng ở khe Đá Mài (cũng thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Thủy) có rất nhiều vàng tấm lẫn trong đất. Ông liền gọi người thân, tự đào bới, khám phá và tìm kiếm được khá nhiều vàng…

Tuy nhiên, cái bí mật về hang vàng khe Đá Mài chẳng mấy chốc bị lan rộng, người dân các nơi bỏ nơi đào vàng cũ, chuyển hết sang hang Khe Mài. Những vụ sập hầm, tranh giành lãnh địa, cướp giết lẫn nhau diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Sức hút của vàng nên nhiều người bấp chấp cả mạng sống của mình, ùn ùn kéo về hang vàng ở khe Đá Mài.

Là một người lính Cộng hòa, được đào tạo bài bản, lại có tính khí khẳng khái, sống sòng phẳng có trước, có sau với mọi người, ông Nguyễn Văn Thành quyết định phải đứng lên làm lại trật tự các hang vàng, nhất là hang vàng khe Đá Mài.

Từ “đại ca” ba chòm thành người vớt xác

Rít một hơi thuốc lào thật sâu, đôi mắt buồn buồn nhìn xa xăm qua khung cửa, ông Nguyễn Văn Thành bắt đầu kể. Ông tên thật là Quách Văn Mậu, sinh năm 1936, là người dân tộc Mường, quê gốc ở huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Cuộc đời xô đẩy, ông từng vào Nam tham gia lính chế độ cũ, từng được chính quyền cách mạng đưa đi học tập cải tạo trong nhiều năm.

Sau bao sóng gió cuộc đời, ông Thành trở về quê, đứng ra quản lý một khu vực đào vàng ở Cẩm Ngọc, Thanh Hóa. Ông kể về cái thời “hoàng kim” bằng một giọng pha chút nuối tiếc: Hồi ấy, ông để tóc ba chòm như trẻ con ngày xưa vẫn để tóc trái đào nên người ta gọi ông là “đại ca ba chòm”, gọi hang vàng ông trông coi là “hang vàng ba chòm”.

Lúc đó, ông nổi tiếng, uy danh một vùng, có hàng chục đệ tử, ai cũng biết tiếng. Người tới Cẩm Ngọc đào vàng nhiều nhưng dưới tay ông, mọi việc đều vào khuôn phép. Trong rừng ngoài xới ai cũng tín nhiệm đại ca ba chòm. Ông làm đại ca ở bãi vàng chừng một năm thì bỗng một hôm, hang vàng sập, anh em bị chôn vùi dưới đống đất đá. Lo sợ bị truy cứu trách nhiệm, ông bỏ về Hà Nội kiếm sống, trong người không một xu dính túi.

Bước chân đến đất Hà thành, đoạn tuyệt chốn giang hồ “rừng thiêng nước độc”, ông bắt đầu tìm cuộc sống mới. Không gia đình, không tiền bạc, không anh em bạn bè, hàng ngày ông Thành lang thang nhặt rác kiếm sống và lấy gầm cầu, vỉa hè làm nhà.

Đến năm 1969, ông Thành gặp bà Nguyễn Thị Thúy, sau này trở thành vợ ông. Bà quê ở Thái Thụy (Thái Bình), nhà nghèo, mẹ mất sớm, bố lấy vợ hai. Sống cảnh con chồng mẹ ghẻ chẳng khác gì cơm khê gạo sống.

Hàng ngày bà Thúy bị mẹ ghẻ mắng mỏ, bắt làm hết mọi việc và bị đánh chửi không thương tiếc. Gái đến thì, bà cũng là người có nhan sắc, lại đảm đang, chăm chỉ nên cũng có nhiều người để ý. Tuy vậy, lúc nào mẹ ghẻ cũng soi mói mắng mỏ, khiến bà xấu hổ chẳng dám nói chuyện với ai. ít lâu sau, mẹ kế ép bà lấy người bà không ưng, cưỡng lại không được, bà bỏ nhà ra đi.

Lang thang giữa phố phường Hà Nội, không người thân thích, bà đi nhặt rác. Thấy người ta mò cua bắt ốc đem bán, cũng bám theo kiếm cái ăn cái mặc. Rồi duyên phận cho hai ông bà gặp nhau, gọi nhau về sống chung (theo như lời ông bà nói). Những người cùng cảnh ngộ thường dễ thông cảm cho nhau.

Bà Thúy cười, bảo: “Ngày ấy ông to cao, da trắng, đẹp trai. ông ấy nói đùa rằng mới 20 tuổi, nhưng thực ra ông đã hơn 30 rồi”. Ngày 26/9/1969 được ông khắc lên cánh tay đánh dấu, để nhớ mãi cái ngày ông bà về ở với nhau, ngày ông có “một gia đình”, chấm dứt những ngày đơn côi, buồn chán.

Khi hai người về ở với nhau, con cái không có, vốn liếng làm ăn cũng không. ông bà lại tiếp tục mò cua bắt ốc, nhặt rác mưu sinh ở những khu chợ, bãi ven sông. Hồi đó, hai ông bà nhặt rác mỗi tuần chỉ kiếm được 7 – 8 chục nghìn, mỗi ngày nhiều lắm cũng chỉ được 20 nghìn.

Chuyen tinh cua ong lao nua doi “cuop com ha ba”

Khoảng chục năm sau ông bà chuyển về bãi Phúc Xá sinh sống, được mọi người giúp đỡ dựng một “ngôi nhà nổi” trên sông vào năm 1997, trở thành cư dân đầu tiên của xóm nổi này. Dù chỉ là tạm bợ nhưng ông bà không phải lang thang nấu cơm bằng ống bơ, tối ngủ gầm cầu. Cũng từ đây, ông làm thêm một việc “trần gian có một”. Đó là “nghề” vớt xác.

Loading...